Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

NGUYÊN NHÂN BỆNH VIÊM KHỚP

Những nguyên nhân chính gây bệnh viêm khớp sau sẽ giúp bạn hiểu biết thêm để phòng tránh bệnh một cách hiệu quả.

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

CÁC LOẠI VIÊM KHỚP

Viêm khớp là tên gọi chung của bệnh về khớp xương do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có thể một hay nhiều khớp bị viêm. Viêm khớp có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng, các khớp có thể bị đau từ trung bình đến đau dữ dội và các khớp có thể bị biến dạng.

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

VIÊM KHỚP LÀ GÌ?


Viêm khớp là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm. Viêm khớp thông thường được hiểu là viêm một hay nhiều khớp. Viêm khớp thường có kèm triệu chứng đau khớp.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

VIÊM KHỚP DẠNG THẤP-NỖI LO CỦA NGƯỜI BỆNH

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là bệnh viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên (khớp tay, chân, gối…), hay bị nhầm với thoái hóa khớp. Bệnh diễn biến phức tạp, kéo dài. Nếu không điều trị, bệnh có thể dẫn đến tàn phế, biến dạng khớp.
VKDT là một bệnh hệ thống, ảnh hưởng tới nhiều cơ quan trong cơ thể (tim, thận, gan, phổi, hệ tạo máu…)

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

BỆNH XƯƠNG KHỚP KHỔ SỞ VÔ CÙNG


“Mấy tháng trời chữa trị cũng là khoảng thời gian tôi phải nằm yên, gần như không chủ động làm được việc gì cả. Bệnh xương khớp ở tuổi này đúng là khổ sở vô cùng!”, chuyên gia ẩm thực Nguyễn Doãn Cẩm Vân chia sẻ.
 Bệnh xương khớp - Khổ sở vô cùng!
Chuyên gia ẩm thực Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân từng phải nằm yên mấy tháng trời vì bệnh xương khớp
 
Trời lạnh càng bị nặng

Sống ở trong Nam, hưởng nắng ấm quanh năm, vậy mà cô Cẩm Vân từng khổ sở bởi phải nằm yên, gần như không chủ động làm được việc gì đến mấy tháng vì cúi xuống bê đồ sai tư thế, làm sụm người xuống, như có cái roi sắt quấy mạnh vào lưng.


Còn ở ngoài Bắc, chẳng cần bê đồ sai tư thế, thậm chí là chẳng làm việc gì nặng thì tình trạng đau nhức, tê buốt ở người già là chuyện thường ngày, đặt biệt là khi trời trở lạnh. Như trường hợp bà Nhung (73 tuổi, ở Đống Đa, Hà Nội). Bình thường bà vẫn than đau mỏi gối nhưng vẫn cơm nước, đi đó đi đây được nhưng đến đợt lạnh này thì dù nằm trên giường, bà cũng cảm thấy đau đớn không chịu nổi.

Còn anh Hưng (39 tuổi, ở Hai Bà Trưng, Hà Nội) thì sau 1 thời gian nghe tiếng lục cục ở đầu gối thì đợt lạnh năm nay, anh bắt đầu phải chịu đựng những cơn đau đầu tiên cho mỗi  bước đi.

Lỗi tại khớp “già nhanh”

Đau nhức, tê buốt khi đi lại, vận động; đau khi thay đổi tư thế, mang vác vật nặng, thậm chí cúi xuống, đứng lên, quay ngang… đều đau; cảm giác cứng khớp, co, duỗi, đi lại khó khăn… là những biểu hiện đặc trưng ở các bệnh nhân bị thoái hoá khớp.

“Ảnh hưởng đầu tiên của bệnh lý đó là làm giảm chất lượng sống của người bệnh. Bệnh nhân sẽ đau đớn và gặp khó khăn trong các công việc hàng ngày, thậm chí không thể lao động được bình thường. Nhiều người cảm thấy mất tự do và như người thừa khi không thể tự mình sinh hoạt cá nhân bình thường mà phải nhờ sự giúp đỡ của người thân, con cháu”, TS. BS Đặng Hồng Hoa (trưởng khoa Cơ xương khớp, bệnh viện E) cho biết.

Nguyên nhân là do tình trạng “già đi” của khớp. Khi sụn khớp bị lão hóa sẽ trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, lớp sụn ngày càng mỏng đi, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết…để trơ lại lớp xương ở bên dưới. Đồng thời, lượng dịch nhầy (dịch khớp) - có tác dụng bôi trơn các đầu khớp xương và sụn cũng dần cạn kiệt. Điều này khiến những khớp xương hoạt động không “trơn tru” và phát ra tiếng kêu…đó chính là nguyên nhân của những cơn đau ở người thoái hóa.

Ngoài ra còn là do chấn thương, làm việc quá nặng hay quá ít vận động…

Cần kiên trì trong điều trị

Do là căn bệnh phổ biến, thường gặp ở người già và là bệnh mãn tính nên kinh nghiệm điều trị cả Tây y và Đông y rất phong phú.

Về tây y, người bệnh thường được chỉ định dùng các loại thuốc đặc trị, tiêm tại chỗ cho những trường hợp viêm cấp tính hay sử dụng các chế phẩm glucosamin, Chondrointin lâu dài… với tác dụng chính là giảm cơn đau, tăng sinh các chất có lợi cho khớp. Tuy nhiên, nhóm thuốc tân dược giúp giảm đau lại thường đi kèm với các tác dụng phụ nguy hiểm nếu sử dụng lâu dài.

 
Còn về đông y, theo BS Phạm Hưng Củng, nguyên Vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền, do thuốc được điều chế từ cây, con có sẵn trong tự nhiên nên không có các tác dụng phụ nguy hiểm như tây y và tại hội nghị Khớp học toàn quốc lần VI vừa được tổ chức mới đây, BS Củng đã có báo cáo khoa học về “Hiện đại hóa Dược học cổ truyền và ứng dụng trong điều trị bệnh xương khớp”. Trong báo cáo này, ông cho rằng việc phát triển và ứng dụng Y học cổ truyền, cụ thể là phương thuốc từ rắn hổ mang, để điều trị các bệnh xương khớp là việc nên làm.

Cơ chế tác động tới khớp của rắn hổ mang khá rõ, đó là khả năng giúp cơ thể người hấp thu các axitamin có trong rắn tổng hợp các Proteoglycan, chất có tác dụng hấp thu nước và chất dịch đến nơi mà xương khớp hoạt động để bôi trơn các khớp xương, làm giảm đau viêm khớp và ngăn ngừa biến chứng, vì nó dần dần khắc phục sự tổn hại của xương khớp, giải quyết triệt để các chứng viêm.

Cơ chế là vậy, vấn đề chỉ còn là chứng minh tính hiệu quả của sản phẩm.

Đứng trước thực tế này, tại khoa Cơ - xương - khớp bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, do TS Nguyễn Mai Hồng làm trưởng nhóm đã tiến hành nghiên cứu lâm sàng trên 50 bệnh nhân sử dụng thuốc cổ truyền có thành phần chính là rắn hổ mang, cao xương dê và 1 số thảo dược (Bách Xà) trong thời gian 3 tháng. Kết quả báo cáo tại hội thảo tổ chức tại Đại học Y mới đây cho thấy, so với nhóm đối chứng cho thấy tình trạng sưng, nóng, đỏ ở những bệnh nhân dùng đông dược giảm khá mạnh, trong đó triệu chứng sưng giảm tới 74%, còn triệu chứng nóng giảm 42% sau 3 tháng sử dụng sản phẩm. Nghiên cứu cũng cho thấy Bách xà giúp giảm đau (chỉ số VAS - thang đau), cải thiện vận động (chỉ số WOMAC), tăng cường dịch khớp.

Như vậy, mặc dù còn cần phải có thêm những nghiên cứu dài hơi hơn nhưng “Bách Xà có thể kết hợp với các thuốc khác trong điều trị bệnh thoái hoá khớp về cột sống do có hiệu quả và an toàn trong điều trị và cần duy trì điều trị kéo dài để nâng cao hiệu quả điều trị”, BS Nguyễn Mai Hồng đại diện cho nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận.

trinhduynhan.com theo dantri.com.vn

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

PHÒNG BỆNH THẤP KHỚP CẤP CHO TRẺ EM


Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim là một bệnh vừa có tổn thương ở tim. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em, lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là lứa tuổi đến trường, từ 5-15 tuổi. Bệnh không phát hiện sớm để điều trị và phòng ngừa kịp thời rất có thể dẫn đến suy tim.

Phòng bệnh thấp khớp cấp cho trẻ em -1
Ảnh: minh họa - Internet
Thấp khớp cấp (thấp tim) là một bệnh có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố do vi khuẩn và tự miễn đóng vai trò hết sức quan trọng.

Căn nguyên gây bệnh thấp tim

 Khoa học đã khẳng định rằng, vai trò của vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes) là thủ phạm chính gây nên thấp khớp cấp tính. Sự tồn tại, gây bệnh của liên cầu nhóm A ở khu vực đường hô hấp trẻ, nhất là ở họng và sự đáp ứng của cơ thể đối với vi khuẩn này đóng vai trò chính trong bệnh thấp khớp cấp. Tuy vậy, không phải bất kỳ người nào, trẻ em nào có vi khuẩn liên cầu nhóm A gây bệnh hoặc tồn tại ở họng cũng gây nên thấp tim mà chỉ có một số tỷ lệ nhất định bị thấp khớp cấp mà thôi.

 Ở Việt Nam theo thống kê chỉ thấy khoảng 3%o số trẻ mắc bệnh thấp tim. Đối với vi khuẩn liên cầu thì được người ta chia thành 3 nhóm chính: S. pyogenes, S. viridans và S. feacalis (chính là Enterococcus: liên cầu đường ruột). Cả 3 nhóm này về tính chất gây bệnh có khác nhau, đặc biệt chỉ có S.pyogenes (liên cầu nhóm A) mới gây bệnh thấp tim.


 Thông thường người ta gặp các týp huyết thanh của liên cầu nhóm A gây bệnh thấp tim là týp 1, 3, 5, 6, 14, 18, 19, 24, 27, 29. Sở dĩ liên cầu nhóm A gây bệnh thấp tim là do đặc điểm cấu tạo vách của chúng. Người ta thấy về cấu tạo vách của tế bào liên cầu nhóm A có phần giống với cấu tạo của khớp và cơ tim. Vì vậy khi vi khuẩn liên cầu xâm nhập vào cơ thể con người, cơ thể sẽ hình thành kháng thể chống lại chúng. Như vậy vô hình trung kháng thể do cơ thể sinh ra cũng có phần chống lại tổ chức của chính mình mà người ta gọi là phản ứng giữa kháng nguyên của liên cầu nhóm A, kháng nguyên của tổ chức khớp, cơ tim, van tim (glycoprotien của van tim) với kháng thể của cơ thể sinh ra.

 Ngoài ra, liên cầu nhóm A khi xâm nhập vào cơ thể cũng có thể gây nên viêm cầu thận cấp nhưng lại do các týp huyết thanh khác của liên cầu nhóm A chứ không phải do các týp huyết thanh gây bệnh thấp tim.

 Biểu hiện của bệnh

 Vi khuẩn liên cầu nhóm A có thể tồn tại ở họng của một số trẻ em (người lành mang vi khuẩn) rồi nhân lúc sức đề kháng của cơ thể vì một lý do nào đó sụt giảm thì chúng trở nên gây bệnh (gọi là gây bệnh cơ hội) hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể trẻ và gây bệnh viêm họng, viêm amidan ngay sau thời kỳ ủ bệnh. Trẻ thường sốt cao 38 - 39oC, có khi sốt cao và dao động kèm theo vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, da xanh tái và bắt đầu có những dấuhiệu biểu hiện ở khớp, ở tim và ở da.


 Viêm khớp biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Thường các khớp lớn biểu hiện rõ nhất như khớp gối, khớp cổ tay, cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai. Đặc biệt cần lưu ý là các khớp sưng, đau luân chuyển từ khớp này sang khớp khác và các khớp chỉ sưng đau vài ngày là hết và lại cử động được bình thường.

 Kèm theo đau khớp là viêm tim. Nhịp tim nhanh, thường trên 100 lần/ phút, trẻ tím tái, khó thở và thậm chí có phù. Trong các trường hợp bị nhẹ, trẻ chỉ kêu đau vùng tim và đánh trống ngực. Khi bị viêm tim sẽ làm cho các van của tim hoạt động không bình thường, tức là làm mất đi sự thanh mảnh, mềm mại, đóng mở hợp lý của nó. Các van tim dày lên, xơ cứng, vôi hóa, các mép van tim có thể bị dày, dính gây nên hở hoặc hẹp van tim và lâu dần sẽ làm loạn nhịp tim gây suy tim, đặc biệt là suy tim mất bù trừ ảnh hưởng đến khả năng lao động và có nguy cơ tử vong cao.

 Dưới da của trẻ bị thấp khớp cấp có thể có các hạt.
 Bệnh thấp khớp cấp có thể chữa khỏi được với điều kiện là phải phát hiện và điều trị sớm trong vòng 3 tháng đầu kể từ khi mắc bệnh. Người ta thống kê cho thấy tỷ lệ chữa khỏi rất cao (khoảng 90%), tuy nhiên sau khi chữa khỏi đợt thấp khớp cấp cũng cần tiêm phòng theo chỉ định của bác sĩ.

 Cách phòng bệnh

 Cần vệ sinh họng, miệng hàng ngày tránh không để trẻ mắc các bệnh viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm mũi, viêm amidan, VA, viêm xoang.


 Khi phát hiện trẻ đã bị viêm đường hô hấp do vi khuẩn liên cầu nhóm A cần tích cực điều trị theo đơn của bác sĩ. Khi biết trẻ bị bệnh thấp tim do vi khuẩn liên cầu nhóm A cần dùng kháng sinh để tiêu diệt hết vi khuẩn. Tốt nhất là dùng benzathin penicilin tiêm bắp thịt với liều lượng 3 tuần tiêm một lần, mỗi lần 1,2 triệu đơn vị với người trưởng thành hoặc trẻ có cân nặng trên 30kg (với trẻ dưới 30kg cân nặng thì chỉ tiêm mỗi một lần là 600.000đơn vị).

 Nếu không có điều kiện tiêm kháng sinh, có thể dùng kháng sinh dạng viên uống, như phenoxymethyl penicilin, viên 250mg, uống 1 viên một lần với 4 lần trong một ngày. Những trẻ dưới 20kg cân nặng chỉ uống 125mg/lần x 4 lần ngày. Nếu người bệnh bị dị ứng với penicilin, có thể thay bằng erythromycin với liều lượng tương tự như phenoxymethyl penicilin và nếu trẻ nhỏ có dưới 25kg cân nặng dùng 40mg/1kg cân nặng/ ngày.

 Khi đã bị thấp khớp cấp cần tiêm kháng sinh cách nhau 3 tuần một lần và tối thiểu trong 5 năm và tốt nhất là phòng bệnh đến 18 tuổi, có khi còn lâu hơn theo chỉ định của bác sĩ theo dõi bệnh cho con, em mình. Đặc biệt những bệnh nhi trong đợt đầu đã có tổn thương tim cần tiếp tục tiêm phòng cho đến 25 tuổi và có thể kéo dài hơn nữa nếu có nguy cơ tái phát. Và những bệnh nhân có tổn thương van tim mạn tính do thấp tim thì phòng bệnh tái phát cần kéo dài trong suốt cuộc đời.

 Người ta cũng khuyên rằng một số bệnh nhân cho dù đã phẫu thuật tim do bệnh thấp tim vẫn có thể có nguy cơ tái phát và do vậy cũng cần tiêm phòng thấp khớp cấp.

Theo PGS.TS. Bùi Khắc Hậu
Sức khỏe & Đời sống

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

THOÁI HÓA KHỚP BÀN TAY Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Thoái hoá khớp (THK) bàn tay là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THK bàn tay chiếm tỉ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí THK thường gặp.

Thoái hóa khớp

Ai hay bị THK bàn tay?

THK bàn tay thường hay gặp ở độ tuổi từ 60 - 65 tuổi. Tuy nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THK bàn tay. Tỉ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 - 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, vì lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hoá sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp.

Bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Số lượng bệnh nhân nữ mắc THK bàn tay nhiều gấp 3 lần so với nam giới. Nguyên nh
ân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp.
Những người béo phì cũng dễ bị THK bàn tay. Có tới 1/3 bệnh nhân THK bàn tay bị béo phì.
THK bàn tay thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường...

Khớp nào dễ bị tổn thương?

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất khi cầm, nắm, mang, vác hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp ngón xa hay khớp ngón gần, khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm, nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn.
Dấu hiệu nhận biết THK bàn tay



Có 4 dấu hiệu cơ bản của THK bàn tay là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương. Người bệnh thường bị đau khớp bàn tay một bên hoặc cả hai bên, đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài khuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào li và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, người bệnh thấy khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 - 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ.

Ở các giai đoạn muộn, có 1/3 bệnh nhân có các ngón tay bị biến dạng. Khoảng 50% số bệnh nhân THK bàn tay gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hằng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn uống, chăm sóc con cháu, bế trẻ nhỏ...

Khi có những triệu chứng như trên, người bệnh cần đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Có thể sử dụng thêm chụp Xquang bàn tay để chẩn đoán THK bàn tay. Đây là kĩ thuật đơn giản, ít tốn kém, được sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương của THK trong nhiều năm nay. 
           
BS.Ngọc Vĩnh - Theo Suckhoedoisong.vn